Nội Dung Bài Viết
Hiển thị các bài đăng có nhãn Gia Đình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Gia Đình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

Giọt nước mắt của cha

Nhiều năm sau, tôi cũng không làm sao quên được cái ngày hôm ấy – cái ngày mà cha xé hết tập vở của tôi!

***

Hôm đó, tôi đi học về trễ hơn mọi bữa, trời đã nhập nhoạng tối. Cha đứng đợi ở cửa, quát: “Đi đâu giờ này mới về?”. Tôi lí nhí đáp: “Dạ, con đi học thêm!”. “Không học thêm học thiếc gì hết! Bỏ cửa bỏ nhà, không dọn dẹp nấu nướng; heo ca gà vịt không ai cho ăn”, vừa nói, cha vừa rút cây roi vắt trên vách, quất liên tiếp vào mình tôi. “Kể từ ngày mai, không được đi học gì hết! Học nè, học nè, học nè!”, mỗi từ học là một roi. Tôi đau quặn người, đưa tay ra đỡ. Cây roi gãy làm đôi. Cha quăng cây roi gãy xuống, phăm phăm bước vào nhà, đến kệ sách của tôi, chụp lấy đống sách vở, vừa quăng vừa xé! Tôi đứng trân mắt nhìn, đau điếng nhưng không dám phản ứng.

Mẹ từ trong bếp chạy ra, kéo tôi vào nhà sau, nói: “Muốn ăn đòn nữa hay sao mà còn đứng đó. Vô nấu cháo heo đi!”. Nhà sau là một cảnh nháo nhác. Bầy heo đói, kêu eng éc. Lũ gà lên chuồng lục tục, quang quác. Âm thanh inh ỏi. Mẹ tôi vừa thổi cơm, vừa la hai đứa em trai tôi, bảo tụi nó xắt rau, xắt chuối. Khói cay mù mịt gian nhà tranh chật chội, cay xè cả mắt. Bữa cơm tối rất trễ, tôi nuốt cơm, nuốt luôn cả những giọt nước mắt.

Năm đó tôi đang cuối cấp ba. Nhà tôi nghèo xơ xác. Cha tôi làm nông, mùa được mùa mất. Mẹ thì đi may ở chợ, sớm dọn đồ ra, tối dọn về. Anh Hai tôi trước đó buổi đi học, buổi phụ mẹ. Thấy mẹ cực quá, anh quyết định nghỉ học. Mẹ không cho, bảo: “Nếu con không học thì ra chợ xin thức ăn thừa ở mấy quán cơm về nuôi heo!”. Anh tôi làm thiệt. Thấy cảnh đứa con trai mười bảy tuổi ngày ngày hai tay xách hai xô ra chợ xin thức ăn thừa, mẹ chịu không nổi, cho anh theo học may.

Giọt nước mắt của cha

Đến lúc anh Ba tôi vào đại học, cha mất đi một người phụ việc, lại phải hàng tháng gửi tiền cho anh, nhà lâm vào cảnh túng quẫn. Cha mẹ cắn răng chịu đựng thêm vài năm, đến khi tôi vào lớp 12, cha bảo: “Con Phương là con gái, không cần phải học nhiều, hết mười hai ở nhà phụ mẹ vài năm rồi lấy chồng là vừa”. Nghe vậy, tôi ứa nước mắt, nhưng biết cảnh nhà cơ cực, không dám hó hé, dặn lòng học đến đâu hay đến đó, biết đâu cha mẹ đổi ý cho tôi vào đại học.

Năm cuối cấp, bài vở rất nhiều. Tôi vừa học ở trường, vừa học thêm ở nhà Nam – học miễn phí, vì “thầy giáo” chính là Nam! Nam học với tôi từ nhỏ, hai đứa rất thân. Biết cảnh nhà tôi, Nam thường kèm tôi làm bài tập. Sau giờ đi luyện thi ở nhà thầy chủ nhiệm về, Nam sắp xếp thời gian hướng dẫn cho tôi làm bài tập chung. Nhờ vậy mà tôi học cũng khá. Nhưng kẹt nỗi, tôi vừa học vừa phải canh giờ về.

Ở nhà bao nhiêu việc chờ tôi, nào nấu cơm tối, dọn dẹp nhà cửa, nào giặt giũ áo quần, cho heo ăn – lũ heo chính là tiền học của mấy anh em tôi, nhất là anh Ba; nhờ bán mấy lứa heo con, mẹ mới có tiền gửi cho anh trọ học! Cha tôi biết chuyện tôi nuôi mộng đại học, nhưng do việc nhà cũng ổn nên không nói gì. Ngặt nỗi, hai đứa em tôi lười chảy thây, chẳng giúp tôi được gì. Đó cũng chính là lý do gián tiếp khiến cho tôi bị cha xé tập vở, bắt phải nghỉ học gấp.

áng hôm sau, lo lắng cơm nước xong, phần cho cha bới đi làm, phần để mẹ bới đi chợ, tôi rón rén ôm cặp ra khỏi nhà. Cha nhìn theo, lặng lẽ. Đến lớp, mắt tôi vẫn còn sưng húp, tụi bạn xúm nhau hỏi, nhưng tôi không trả lời. Xui xẻo làm sao, đúng hôm đó thầy chủ nhiệm gọi tôi lên trả bài. Tôi hoảng hốt, ngơ ngẩn bước lên bục giảng. Thầy cầm lấy quyển tập của tôi, ngạc nhiên hỏi: “Tập em sao thế này? Không phải em xé đó chứ?”. Tôi đứng im vô hồn, thầy hỏi gì cũng không đáp. “Này!”, thầy khẽ nắm lấy cổ tay tôi lắc lắc, đúng ngay chỗ bị cha đánh. Tôi đau quá, la “oái” lên. Thầy nhìn thấy cổ tay tôi sưng vù, bầm tím, như hiểu ra điều gì, dịu giọng nói: “Em xuống phòng y tế đi, nhờ cô Vy bóp dầu cho. Thầy cho em nợ, lần sau trả bài nhé!”.

Kể từ hôm đó, thầy chủ nhiệm quan tâm đến tôi nhiều hơn. Thỉnh thoảng, thầy nhờ Nam gửi cho tôi một vài quyển sách tự học với lời nhắn nhủ: “Hãy cố lên, rồi mọi thứ sẽ tốt đẹp, em nhé! Không gì là mãi mãi…” Lời nhắn nhủ của thầy theo tôi mãi đến những tháng năm sau này…

Rồi tôi cũng tốt nghiệp, loại giỏi! Tôi tiếp tục nộp đơn dự tuyển sinh đại học. May thay, dù chỉ dự thi một trường duy nhất là Đại học Sư phạm, tôi cũng đậu. Trước mặt tôi là một con đường! Dưới chân tôi là một con đường! Tôi sẽ phải bước tiếp!

Hôm tôi trình giấy báo nhập học, mẹ lặng lẽ cười. Cha tôi trầm ngâm không nói. Thêm một người nữa vào đại học. Một niềm vui, một nỗi lo. Phía trước, phía trước. Phía trước chắc chắn là những tháng ngày gian khó cho cha mẹ, và dĩ nhiên, cả cho tôi nữa. Tôi nhớ lúc trong phòng thi, khi đã hoàn thành bài thi cuối cùng mà vẫn còn chút ít thời gian, thay vì coi lại bài, tôi đã gục đầu trên trang giấy của mình và khóc. Giám thị có lẽ nghĩ tôi làm bài không được, nhìn tôi ái ngại.

Nhưng tôi thì lại khác, không hiểu sao tôi nghĩ là mình sẽ đậu, đậu trong lo lắng. Tôi khóc vì tấm lưng cha phơi nắng giữa đồng. Tôi khóc vì những đường kim miệt mài của mẹ. Khóc cho hai đứa em tôi. Và tôi khóc cho tôi. Không gì là mãi mãi… Tôi nhớ câu nói của thầy chủ nhiệm và tự nhủ: vì những người thân yêu, mình sẽ thay đổi được mọi thứ! Nhất định!

Khuya hôm đó, mẹ dậy sớm nấu cơm. Hai đứa em tôi vẫn còn say ngủ. Cha ngồi uống trà, nghe radio, kênh nhà nông. Tôi một mình xếp hành lý. Ăn sáng xong, tôi cúi chào cha mẹ lên đường. Cha tôi chỉ gật đầu, còn mẹ chỉ dặn: “Con đi đường cẩn thận. Phải biết tự chăm sóc cho mình, cha mẹ ở xa không lo được”. Lần đầu tiên tôi xa nhà, xa những vài trăm cây số. Trong túi tôi cũng chỉ vỏn vẹn vài trăm ngàn. Ra đến cổng, tôi ngoái lại nhìn căn nhà thân yêu của mình, nơi tôi đã sống, đã thương yêu, đã buồn khóc những 18 năm trời!

Bất chợt, tôi bắt gặp ánh mắt của cha nhìn theo. Thấy tôi quay lại, cha vội lảng đi chỗ khác. Dù xa, nhưng không hiểu sao tôi vẫn nhận ra những giọt nước mắt – giọt nước mắt đã chảy xuống đôi gò má sạm nắng của cha. Cha đã khóc vì tôi. Nghĩ đến đó, mắt tôi chợt cay xè!

Bến xe hôm đó thật đông. Tôi lên xe, lặng lẽ nhìn ra cửa. Đây là quê hương tôi, lát nữa tôi phải xa. Dù là đi học, nhưng không hiểu sao tôi vẫn có cái cảm giác biền biệt, như lời một bài hát: “Quê nhà tôi ơi, xứ Đoài xa lắm…”.

Xe khởi động. Tiếng rừm rừm làm tôi rùng mình. Tôi thò đầu ra khỏi xe, nhìn về hướng nhà. Bỗng, trên con đường đất đỏ, tôi thấy dáng ai đang tất tả chạy lại – dáng ai như thể dáng mẹ! Đúng là mẹ rồi! Mẹ đi đâu vậy nhỉ? Không phải giờ này mẹ phải ra chợ rồi sao? Đến trước cửa xe, mẹ hớt hơ hớt hải gọi tài xế: “Chờ tôi chút!”. Tôi vội lao ra khỏi xe. “Có chuyện gì hả mẹ?”, tôi lo lắng hỏi. “Không!”, mẹ vừa thở hổn hển vừa nói: “Mẹ chỉ gửi cái này cho con!”.

Nói rồi, mẹ dúi vào tay tôi một bọc giấy nhỏ: “Con cầm lấy đi!”. Tôi ngờ ngợ, vội mở ra, mẹ không kịp ngăn lại. Cái gì đây? Một đôi bông tai và chiếc nhẫn vàng! Ồ,… không! Chẳng phải đây là đôi bông tai và chiếc nhẫn cưới của mẹ sao. Mẹ đã giữ gìn cẩn thận nhiều năm, cho dù có túng quẫn thế nào cũng không đem ra bán. Đó là vật kỷ niệm thiêng liêng của ngoại tặng mà mẹ quý hơn máu thịt.

“Mẹ, con không nhận đâu!”, tôi bật khóc nói. “Không, con cầm lấy đi cho mẹ yên tâm. Thân gái dặm trường, không có ai lo cho con cả!”. “Còn cha thì sao? Cha có biết chuyện này không?”, tôi ngập ngừng hỏi. Mẹ gật đầu: “Cha con nói, vật kỷ niệm thì cũng là vật. Bây giờ mà không đưa cho con thì đợi đến bao giờ?!”. Thì ra, cha tôi… Cha vẫn rất thương yêu tôi, thương yêu theo cái cách của cha! Hai mẹ con chia tay nhau tại bến xe, ngập đầy nước mắt!

Xe chạy. Dáng mẹ xa dần. Tôi lại giở những kỷ vật của mẹ ra xem. Nước mắt lại trào ra. Tôi tự hứa là sẽ không bao giờ bán những kỷ vật này đi. Tôi có đôi bàn tay; tôi có khối óc; tôi có những kiến thức quý giá mà mình đã tích lũy được từ nhà trường, gia đình và xã hội. Nhất định tôi sẽ tự đứng trên đôi chân của mình. Nhất định!

Nhiều năm sau, tôi cũng không làm sao quên được cái ngày hôm ấy – cái ngày mà cha nhìn theo tôi, nước mắt cha chảy xuống đôi gò má sạm đen vì nắng! Tôi thương cha, thương theo cách của mình. Dù cha có làm gì đi nữa thì tôi vẫn thương.

Chuộc lương tâm

Câu hỏi của bố nhen lên một tia hy vọng trong lòng tôi. Rất nhanh trí, tôi bịa ra một câu chuyện: “Hồi này lớp con đang học ngày học đêm để chuẩn bị thi đại học, vì là lớp cuối nên bây giờ chúng con lên lớp không theo thời khoá biểu của trường nữa, cho nên ai cũng phải có đồng hồ để biết giờ lên lớp.”

Cách đây hơn hai chục năm, hồi tôi học phổ thông cấp III, đồng hồ đeo tay còn là thứ xa xỉ phẩm khan hiếm. Một hôm, thằng bạn cùng bàn sắm được một chiếc đồng hồ mới toanh, nó đeo đồng hồ rồi xắn tay áo lên trông thật oách làm sao, khiến cả lớp phục lăn.

Chỉ vài hôm sau đã thấy mấy thằng khác cùng lớp đua nhau sắm đồng hồ đeo tay. Ngay cả trong giấc mơ tôi cũng ao ước được như chúng nó: sắm một chiếc đồng hồ để mọi người trông thấy mà thèm.

Chuộc lương tâm

Hôm chủ nhật, tôi về nhà chơi. Lấy hết lòng can đảm, tôi nói với mẹ: “Mẹ ơi, con muốn mua một cái đồng hồ đeo tay, mẹ ạ!”

Mẹ tôi trả lời: “Con này, nhà mình đến cháo cũng sắp sửa chẳng có mà ăn nữa, lấy đâu ra tiền để sắm đồng hồ cho con?”

Nghe mẹ nói thế, tôi rất thất vọng, vội quáng quàng húp hai bát cháo rồi chuẩn bị về trường. Bỗng dưng bố tôi hỏi: “Con cần đồng hồ làm gì thế hả?”

Câu hỏi của bố nhen lên một tia hy vọng trong lòng tôi. Rất nhanh trí, tôi bịa ra một câu chuyện: “Hồi này lớp con đang học ngày học đêm để chuẩn bị thi đại học, vì là lớp cuối nên bây giờ chúng con lên lớp không theo thời khoá biểu của trường nữa, cho nên ai cũng phải có đồng hồ để biết giờ lên lớp.”

Nói xong, tôi nôn nóng chờ bố trả lời đồng ý,thế nhưng bố tôi chỉ ngồi xổm ngoài cửa chẳng nói câu nào.

Trở về ký túc xá nhà trường, tôi chẳng còn dám nằm mơ đến chuyện sắm đồng hồ nữa. Thế nhưng chỉ mấy hôm sau, bất chợt mẹ tôi đến trường, rút từ túi áo ra một túi vải hoa con tý rồi mở túi lấy ra một chiếc đồng hồ mác Thượng Hải mới toanh sáng loáng.

Tôi đón lấy nó, đeo ngay vào cổ tay, trong lòng trào lên một cảm giác lâng lâng như bay lên trời. Rồi tôi xắn tay áo lên với ý định để mọi người trông thấy chiếc đồng hồ của mình.

Thấy thế, mẹ tôi liền kéo tay áo tôi xuống rồi bảo: “Con này, đồng hồ là thứ quý giá, phải lấy tay áo che đi để giữ cho nó khỏi bị sây xước chứ! Con nhớ là tuyệt đối không được làm hỏng, lại càng không được đánh mất nó đấy! Thôi, mẹ về đây.”

Tôi tiễn mẹ ra cổng trường rồi hỏi: “Sao nhà mình bỗng dưng lại có tiền thế hở mẹ?” Mẹ tôi trả lời: “Bố mày bán máu lấy tiền đấy!”

Bố đi bán máu để kiếm tiền mua đồng hồ cho tôi? Trời ơi! Đầu óc tôi quay cuồng, ngực đau nhói. Tiễn mẹ về xong, tôi tháo chiếc đồng hồ ra, bọc kỹ mấy lớp vải như cũ cất vào cái túi con tý mẹ đưa.

Ngay hôm ấy, tôi hỏi thăm các bạn xem có ai cần mua đồng hồ mới không. Các bạn hỏi tôi tại sao có đồng hồ mà lại không đeo, tôi bảo tôi không thích. Họ chẳng tin, cho rằng chắc hẳn đồng hồ của tôi có trục trặc gì đấy, vì thế chẳng ai muốn mua nó.

Cuối cùng tôi đành phải nhờ thầy chủ nhiệm lớp giúp tôi tìm người mua đồng hồ và thành thật kể lại đầu đuôi câu chuyện cho thầy nghe, vừa kể vừa nước mắt lưng tròng.

Thầy chủ nhiệm nghe xong bèn vỗ vai tôi và nói: “Đừng buồn, em ạ. May quá, thầy đang cần mua một chiếc đồng hồ đây, em để lại nó cho thầy nhé!” Thầy trả tôi nguyên giá, còn tôi thì dùng số tiền đó nộp hai tháng tiền ăn ở nhà ăn tập thể.

Có điều khó hiểu là sau đó chưa bao giờ tôi thấy thầy chủ nhiệm đeo đồng hồ cả. Mỗi lần tôi hỏi tại sao thì thầy chỉ cười không nói gì.

Về sau tôi thi đỗ đại học rồi ra trường và làm việc ở một tỉnh lị xa quê. Câu chuyện chiếc đồng hồ kia cứ mãi mãi đeo bám ám ảnh tôi.

Trong một dịp về quê thăm gia đình, tôi tìm đến nhà thầy chủ nhiệm cũ và hỏi chuyện về chiếc đồng hồ ấy. Thầy tôi bây giờ đã già, tóc bạc hết cả. Thầy bảo: “Chiếc đồng hồ vẫn còn đây.”

Nói rồi thầy mở tủ lấy ra chiếc túi vải hoa nhỏ xíu năm nào mẹ tôi đưa cho tôi. Thầy mở túi, giở từng lớp vải bọc, cuối cùng chiếc đồng hồ hiện ra, còn mới nguyên !

Tôi kinh ngạc hỏi: “Thưa thầy, tại sao thầy không đeo nó thế ạ?” Thầy chủ nhiệm từ tốn trả lời: “Thầy đợi em đến chuộc lại nó đấy!”

Tôi hỏi tiếp: “Thưa thầy, vì sao thầy biết em sẽ trở lại xin chuộc chiếc đồng hồ ạ?” Thầy bảo: “Bởi vì nó không đơn giản chỉ là chiếc đồng hồ, mà điều quan trọng hơn, nó là lương tâm của một con người.”

cảm ơn bạn đã đọc bài viết chuộc lương tâm

Dạy chồng

Linh tính cho chị biết đó là… nhà nàng chứ không phải nhà hàng.

***

18 giờ, chị gọi điện thoại đến công ty của chồng, đồng nghiệp chồng nói rằng: “Anh ấy vừa đi ăn tối ở nhà hàng”. Linh tính cho chị biết đó là… nhà nàng chứ không phải nhà hàng.

20 giờ, sau khi cho các con ăn xong, chị lái xe đến nhà nàng. Ô tô của sếp đang đỗ ở trong sân. Linh tính đã không đánh lừa chị. Có cái gì đó rất nóng, trào lên nơi cuống họng nhưng chị đã kịp nuốt khan nó vào.

Không ấn chuông, không đập cửa, cũng không gào thét, chị cởi chiếc giày bên chân phải của mình, treo vào phía trong cánh cửa sắt rồi phóng xe về nhà, giúp các con ôn bài.

Dạy chồng

Gần 23 giờ đêm, sếp mới chỉnh trang lại y phục, chải lại mái tóc bị vò rối bù và ra về. Nàng ra mở cửa cho sếp trong bộ váy áo ngủ mỏng tang đầy quyến rũ và giật mình khi nhìn thấy một chiếc giày treo trong khung cửa sắt.

“Sao lại có một chiếc giày ở đây? Một chiếc giày chân phải rất đẹp”.

“Thôi, em vào ngủ đi. Cho dù đẹp nhưng một chiếc giày thì cũng chẳng làm được việc gì”.

Trên đường về nhà, sếp cứ nghĩ vẩn vơ về chiếc giày đó, nó là của ai? Và vì sao nó được treo ở đó?

Sếp lái xe vào gara, mở cổng rất khẽ. Có một chiếc giày chân trái của phụ nữ đặt ngay ngắn trên bậc cửa. Sếp đứng như trời trồng trước chiếc giày đó chừng 2 phút. Sau đó sếp vào phòng ngủ riêng, vì sếp không muốn nghe vợ cằn nhằn, khóc lóc.

Nhưng sếp trằn trọc mãi không sao ngủ được. Sẽ có giông bão trong căn nhà này. Sẽ là nước mắt, tiếng la hét và một lá đơn ly hôn. Rồi hai đứa nhỏ sẽ chán đời, đi bụi và hư hỏng… Đó là tấn bi kịch đáng sợ nhất.

Nhưng sáng hôm sau mọi việc vẫn diễn ra bình thường. Bát phở gầu bò thơm ngào ngạt vẫn được để ngay ngắn trên bàn cùng với mấy dòng chữ của vợ: “Em đưa các con đến trường. Anh ăn sáng rồi đi làm. Hôm nay trời u ám nên anh phải mặc bộ vét màu sáng, thắt cà vạt màu sáng. Em đã ủi kỹ, treo trong tủ”.

Sếp gọi điện thoại cho nàng: “Chiếc giày chân phải kia là của vợ anh. Đừng vứt đi nhé”. Giọng nàng đầu dây bên kia nghe hơi hoảng hốt: “Trời ạ! Anh muốn làm sao thì làm chứ nếu chị ấy đến nhà em làm ầm lên thì em không sống nổi đâu. Chiều anh tạt qua lấy chiếc giày về”.

Nhiều ngày trôi qua mà giông bão không nổi lên, thái độ của vợ sếp vẫn bình thản, song một chiếc giày trên bậc cửa cứ nhắc sếp về sự lẻ loi và tội lỗi của một người. Rồi một buổi chiều, sếp lấy hết can đảm, lôi chiếc giày bên phải trong cốp xe ra, đặt ngay ngắn bên chiếc giày chân trái của vợ.

Chị đi làm về, đứng sững trước bậc cửa mấy giây rồi chạy vào, ôm ghì lấy chồng mà thì thầm: “Ôi! Chiếc giày chân phải của em!” Sếp cũng thì thầm bên tai vợ: “Anh xin lỗi em – nghìn lần xin lỗi!”.

Bếp lửa của bà

Cuối thu mùa đông lại về, ngoài kia những hạt mưa phùn phất phơ trong gió, cuộn vào khói bếp trên nóc nhà ai phủ một màu trắng xóa…. Mùa đông về rồi, có lẽ ai cũng nhận ra điều đó, chính nó cũng vậy, mùa đông gắn liền với nó là những tháng ngày sống với ngoại, đó là những kỉ niệm mà nó không bao giờ quên được.

Ngày còn bé, ba mẹ nó đi làm ăn xa để nó ở lại sống với bà. Nó còn nhớ những ngày trời chuyển sang đông, nó lại cùng bà lên đồi cây Bạch đàn nhặt củi về cất giành để chờ  mùa đông tới, ngày ấy nó còn nhỏ nên vẫn còn hồn nhiên lắm, nó còn thi với bà xem ai kiếm được nhiều củi hơn, và tất nhiên là lần nào nó cũng thắng, nó còn nhớ những ngày nó lon ton cùng bà đi chợ, men theo con đường làng quanh co tấp nập đầy người qua lại, thấy mấy đứa bạn có áo quần mới nó cũng đòi bà mua  cho bằng được bộ áo quần của ông già noel để khoe với mấy đứa trong xóm, nó còn nhớ mùa đông đến, vào những buổi  sớm mai không có bữa nào nó lại quên ngồi cùng bà  nhóm bếp, những lần như thế nó lại được nghe bà kể những câu chuyện cổ tích, nó còn nhớ những hôm  bà lụi cụi nấu nước, thì nó lại nhí nhố kiếm vài củ khoai, củ sắn vùi vào đống than hồng đang rực đỏ, có đôi lần mải miết với mấy củ khoai mà làm tắt lửa của  bà, còn mặt lấm lem toàn nhọ nồi….

Nó nhớ, nhớ nhiều lắm…nhớ về tuổi thơ lớn lên cùng bà…

Bếp lửa của bà

Lại một mùa đông nữa đến, nó không còn nhìn thấy hình ảnh của ngoại bên bếp lửa hồng… Biết bao nhiêu mùa đông đã qua, bây giờ nó không còn là một cô bé như những ngày còn  thơ ấu nữa, nó không còn được ngồi cùng bà bên bếp lửa vào những mùa đông rét  lạnh vì giờ đây bà nó đã đi xa rồi. Ngày bà nó mất cũng là những ngày của mùa đông….

Mỗi mùa đông đến lại mang cho nó những nổi buồn, nổi buồn về một thời đã qua, một tuổi thơ hiền hòa và bình dị bên bà, giờ nó không còn được ở bên bà nữa, nhưng tình cảm mà nó giành cho bà vẫn còn vẹn nguyên, những kỉ niệm thời thơ dại ấy vẫn còn in đậm trong trái tim của nó, nó chỉ tiếc rằng, giá như ngày ấy, nó không nghịch ngợm, ham chơi mà nó biết yêu thương bà hơn thì bà đỡ khổ biết mấy, nó tiếc rằng, đã mấy mùa đông qua rồi mà nó vẫn chưa mua cho bà được một chiếc áo ấm… để rồi khi…giờ đây nó phải hối tiếc.

Mùa đông đến, không gian vắng lặng, có lẽ chính cái lạnh buốt ấy, đã khiến người ta sợ ra đường, đâu đâu nó vẫn nghe được  tiếng nổ lép bép của những chiếc củi già trong bếp lửa nhà ai, hương khói nồng nàn của loại cây Bạch đàn thoang thoảng trong gió, một mùi hương nhẹ nhàng mà sao nó thấy quen thuộc.

Em gái và chiếc điện thoại

Bao nhiêu tin nhắn của em gái nó đập vào mắt, không kịp đọc hết, nó dắt chiếc xe đạp ra khỏi nhà mà không đem theo cả áo mưa.

***

Ngày đó, khi vừa đậu đại học, nó nài nỉ ba mẹ mua cho nó một cái điện thoại.

Vậy là ngày nhập học vào ngôi trường mới trên thành phố lớn, với biết bao lo toan từ nơi ăn, chốn ở, ba mẹ nó cũng cố sức chạy vạy ở quê để gửi tiền lên cho nó mua điện thoại mà theo nó là để tiện việc liên lạc.

Năm thứ hai đại học, nhìn thấy bạn bè xung quanh toàn là điện thoại màn hình cảm ứng, nghe nhạc, chụp hình, xem phim…không như cái điện thoại rẻ tiền xấu xí của nó, chỉ mỗi chức năng nghe gọi, nhắn tin. Nó gọi điện về nhà xin ba mẹ mua điện thoại mới với lý do phải học nghe Anh văn.

Đầu dây bên kia, mẹ nó im lặng hồi lâu không nói gì…

Em gái và chiếc điện thoại

Hai hôm sau, mẹ gửi tiền lên cho nó…kèm theo một mảnh giấy “Cho con gái yên tâm học tập, cái gì ba mẹ cũng sẽ cố lo…”.

Nó không chú ý.

Tối đó, nó nhờ mấy đứa bạn tư vấn và mua chiếc điện thoại mới đắt tiền mà bạn nó nói là sành điệu nhất hiện giờ.

Hè năm đó, nó mang về cho em gái chiếc điện thoại cũ.

Em gái nó mừng lắm, say sưa nghe nó hướng dẫn cách dùng, em còn may một cái túi màu hồng thật xinh bằng vải vụn cho cái điện thoại cũ mà hằng ngày nó vẫn vứt hết góc này đến góc khác trong phòng không thương tiếc.

Từ ngày có điện thoại, em gái nó cứ nhắn tin, gọi điện cho nó suốt. Trong danh bạ điện thoại của em nó cũng chỉ có số của nó mà thôi. Cả mấy tháng không về nhà mà chuyện gì ở nhà em nó cũng kể cho nó tường tận, em còn kể chuyện học, nhiều khi chỉ là lời chúc ngủ ngon, rồi hỏi nó đi học có mệt không, có gì vui không…

Lúc mới đầu, nó cũng nhắn lại, nhưng sau đó, những dòng tin nhắn của nó cho em gái càng ngày càng cộc lốc, nhiều khi, đọc xong tin nhắn nó cũng chả thèm nhắn lại chữ nào…

Nó say sưa với việc nhắn tin với bạn bè, về những chuyện không đâu mà có khi đến tận khuya, mặc dù ngày nào bọn nó cũng gặp nhau và tám đủ chuyện ở trường. Nó nhắn tin để xin lỗi nhóm bạn của nó vì buổi tối quên hẹn đi xem phim. Nó nâng niu từng tin nhắn của cậu bạn học chung lớp Anh văn, nó lo lắng khi cậu ấy nhắn tin duy nhất một chữ “Mệt”.  Nó không tiếc tin nhắn khi an ủi cô bạn chỉ vì mẹ cô ấy không cho tiền mua quần áo mới…

Hộp thư đi của nó cứ một đầy thêm, nhưng tin nhắn của nó cho em gái thì càng thưa thớt dần…

Còn hộp thư đến thì vẫn đều đặn hằng ngày nhận được tin nhắn của em nó.

Hè tới, nó chỉ về quê gần một tuần rồi xin ba mẹ trở lại thành phố đi làm thêm.

Một buổi sáng chủ nhật, nó đang ngồi ăn sáng cùng đám bạn thì thấy số em gái nó gọi, nó nhìn số rồi tắt máy vì đang bận bàn luận sôi nổi, nó định về nhà sẽ gọi lại…

Về đến nhà trọ, nó nằm lăn ra ngủ vì đêm qua thức khuya…

Đến trưa, nó giật mình thức dậy khi nghe tiếng gió đập vào cửa sổ, cơn mưa đổ ập xuống giữa trưa hè nóng bức không báo trước, nó nghĩ thầm “Mưa lớn thế này, chắc là bão”.

Ngồi một lúc, nó sực nhớ chiếc điện thoại, bật lại máy nó thấy tin nhắn em gái nó từ lúc 9 giờ sáng…

“Chi oi, em len tham chi, em muon chi bat ngo, chi co vui khong?”, “Em dang o ben xe, chi ra don em nhe…”,

“Chi oi, chi ban hoc a, em goi cho chi hoai khong duoc”,

“Chi dau roi, chi oi, mua to qua”.

“Chi, em khong biet duong di”

“Chi…”…”Chi oi”

Bao nhiêu tin nhắn của em gái nó đập vào mắt, không kịp đọc hết, nó dắt chiếc xe đạp ra khỏi nhà mà không đem theo cả áo mưa.

Ra đến bến xe, nó rảo mắt tìm quanh, tim nó thắt lại khi thấy em gái nó đang ngồi co ro cạnh gốc cây, trên tay là chiếc điện thoại, vừa đói, vừa mệt, vừa sợ, chắc em không còn đủ sức để nhắn tin nữa rồi…

- Chị ơi, em đây này!

- Sao chị không mặc áo mưa thế, ướt hết rồi kìa, lỡ bệnh thì sao, mà sao chị lại khóc thế, em không sao mà!

Mặt em tái đi vì lạnh, nó muốn nói gì đó mà cổ họng cứ nghẹn ứ…

-Em mừng quá, em sợ chị không tìm được em thôi…

Nó lẳng lặng ôm chặt lấy em, những giọt nước mắt nóng hổi cứ tự nhiên trào ra…
Cuộc sống xô bồ đôi khi làm chúng ta thờ ơ với nhiều thứ, đừng để đến lúc nhận ra thì đã là quá muộn bạn nhé.

Nhớ lắm giọng quê

Đã bao giờ bạn phải khóc trước một câu hát, đã bao giờ bạn ngậm ngùi khi nhớ một giọng quê? Riêng tôi, tôi đã nhớ, đã thèm đến cháy bỏng một câu nói “răng, rứa, mô, tê” quen thuộc quê mình khi sống giữa chốn Hà thành đô hội. Giọng xưa Quảng, hai tiếng ấy quá dỗi thiêng liêng, trìu mến. Tiếng quê mà xa ai cũng nhớ, nghe lại bồi hồi.
Người miền Bắc bảo: Giọng Quảng Bình nghe nó cứ nằng nặng làm sao ấy. Không nặng sao được một khi nó là lời ăn tiếng nói hàng ngày của những người dân miền Trung lam lũ, khắc khổ, một nắng hai sương lặn lội với hạt lúa, củ khoai. Phải chăng trong tiếng nói của người miền Trung chất chứa cái nắng, cái gió, dữ dội, khắc nghiệt của thời tiết? Tiếng nói ấy mang theo cả nỗi nhọc nhắn nhưng nó cũng bình dị, chân chất mộc mạc như chính những con người nơi đó.
Nhưng rồi cũng sẽ có lúc người miền Bắc phải thốt lên “Giọng Quảng Bình tuyệt vời”.Người con xứ Quảng xa quê, mỗi người một việc bộn bề hối hả trong dòng đời ngược xuôi của phố phường Hà Nội, Sài Gòn… Nhưng dù ở đâu, làm gì khi mỗi chiều bất giác được nghe câu hát xứ Quảng vang lên. hộ lại xao xuyến, bâng khuâng. Những câu hát như xua tan bao mệt nhọc của một ngày lao động vất vả, nó như hối thúc, cổ vũ họ bước tiếp trên con đường tương lai, bới trước mắt họ là quê hương là những ngày nghỉ phép quây quần bên mâm cơm gia đình, cười rộn rã trong âm điệu “răng, rứa, mô, tê” thân thuộc. Năm tháng chảy trôi, hời gian không trở lại. Mọi thứ đều có thể đổi thay, con tạo vẫn xoay. Nhưng giọng Quảng Bình thì cứ vẫn luôn ấm áp, nằng nặng.
Tôi là một con người xứ Quảng, xa đồng lúa quê hương ra thành phố trọ học. Những ngày đầu, thật vất vả lắm tôi mới làm quen được với bạn bè cùng trang lứa, cũng bởi giọng Quảng. Bạn bè tôi nhiều đứa bảo: “Chuyển giọng Bắc cho dễ nghe”. Tôi lắc đầu, cười mỉm: “Cứ nghe dần rồi quen”.

Nhớ lắm giọng quê

Cũng không ít người con xứ Quảng, đi những vùng quê khác nhau họ đã phải đổi giọng để thuận lợi cho học tập, giao tiếp. Nhưng thật đáng buồn có người có người lúc trở về sống giữa quê nhà mà “cố quên” đi giọng Quảng, bi bô thích thú với giọng Bắc, giọng Nam. Họ sống giữa quê hương, trò chuyện với người thân bằng thứ giọng lạc lõng, lơ lớ. Họ đâu biết rằng trong ánh mắt của người thân, lúc ấy ẩn giấu một thoáng buồn.
Riêng tôi, tôi rất hãnh diện về giọng nói đặc trưng quê mình. Tôi tự tin bước vào đời bởi hành trang của tôi không chỉ là học vấn, tri thức mà còn có cả giọng Quảng Bình- là tất cả những thương yêu của ông bà, Ba mẹ, những người hàng xóm chân tình nơi quê nhà xứ Quảng.

Ông nội

Mẹ bảo: “Được nghe ông mắng còn là vui đấy con ạ, lỡ mai này muốn nghe cũng chẳng được đâu”.

***

Ông nội tôi có hai con trai là bác Quang và bố tôi. Bác Quang thì đã mất cách đây mấy chục năm rồi, chỉ còn bố tôi là con trai duy nhất. Ông bà sinh thưa, bố tôi lại là con út, ông có nhiều cháu ngoại mà đợi mãi vẫn chưa được bồng bế cháu nội nào. Tôi sinh ra đời là niềm vui lớn không tả xiết của ông. Bà nội tôi ngày ấy vẫn còn mang trong mình nhiều “tàn dư” tư tưởng phong kiến, có cháu gái, bà cũng quan tâm bình thường nhưng với ông, thì tôi giống như một viên ngọc vậy.

Ông nội

Mẹ kể, khi mẹ mang thai, ông đã chuẩn bị tên tuổi cho tôi đầy đủ:”con gái thì đặt là Hiền, con trai thì đặt là bác (bác trong uyên bác đấy ạ)”. Vậy là tôi ra đời mang cái tên Hiền trong giấy khai sinh.

Mẹ sinh tôi mùa đông, thứ thời tiết lạnh giá chưa kể cho những ngày ẩm ướt. Ông nội chẳng ngạị ngần gì, thường thay mẹ tôi giặt đồ cho cháu gái yêu. Mẹ bảo, nhiều lúc đồ cháu chưa kịp khô, ông ngồi bên bếp than hàng giờ để hong cho hết ẩm.

Hơn một năm, tôi bắt đầu tách mẹ, theo ông cả ngày. Ban ngày ông bế tôi vào ghế ngồi sau xe đạp, chở tôi đến ” đàm đạo” với các cụ trong làng bàn chuyện cây cảnh, thơ phú. Có lẽ vì thế mà cái máu nghệ sỹ của tôi cũng từ đó mà ra, cái tính suy nghĩ già trước tuổi cũng từ đây mà có. Tối tối, hai ông cháu đi “hóng mát” dọc con đường làng, bóng ông đi trước, bóng cháu theo sau, suốt tuổi thơ tôi là như thế. Tối, ông rửa chân rồi bế tôi đặt vào giường đi ngủ. Có những đêm, bố mẹ nhớ con xin phép ông bế cháu về giường ngủ, nửa đêm con bé tỉnh giấc, thấy không phải “giường mình” lại lần mò tìm về phòng ông để ngủ. Nhiều đêm con bé vô thức “dấm đài” ướt hết cả giường ông, sáng hôm sau ông lột chiếu đem giặt, phải nói khéo là “Hôm qua mưa dột” vì sợ con bé khóc.

Lên mẫu giáo, ba mươi ngày thì hai mươi sáu ngày ông chở cháu đi học còn lại là ngày nghỉ. Cháu gái ông nũng nịu:”Ông phải bảo cô giáo là ở nhà cháu ngủ rồi nhé”, thế mà ông cũng “bao che”, ngày nào ông cũng làm như lời cháu dặn, để nó thỏa sức chơi trong khi các bạn phải nằm im để ngủ.

Chiều chiều, cứ tan giờ học, dù sớm hay muộn, chẳng bao giờ cháu phải lo đợi người đến đón. Ông đứng đó, sẵn sàng như chờ cháu suốt giờ cháu học. Nhiều hôm nhớ ông, cháu gái cứ ngó ra ngoài cổng lớp, thỉnh thoảng thấy ông vẫn tay qua khe cổng nhoẻn miệng cười, làm cháu rất yên tâm.

Có một lần , trường tổ chức cuộc thi ” ông bà và cháu”. Cặp ông cháu tôi được đánh giá khá cao, bởi vì ông là một người nổi tiếng nói hay, còn cháu vốn dĩ “thông minh từ trước khi đi học”(lời cô hiệu trưởng). Hôm ấy, cháu trả lời trôi chảy chỉ đợi ông toàn thắng. Ấy vậy mà…ông không chuẩn bị tốt, cháu khóc hết cả nước mắt vì không được thi trên huyện…

Một lần khác, đang biểu diễn văn nghệ thì cháu bỏ đi chơi, cô giáo và mọi người nháo nhác đi tìm vì sợ cháu mất tích. Mỗi mình ông biết chỗ cháu có mặt, cháu sợ run người, vậy mà ông chẳng mắng cháu lấy một câu.

Cháu lên lớp một, ông nhường cho cháu hẳn cái bàn làm việc to bằng cả cái dường cho cháu ngồi học, ông bảo “ngồi cho thoải mái”. Sách vở cháu để trên bàn phải trèo hẳn lên mới lấy được, ông chê cháu bừa bộn, nhưng rồi lại tự tay thu dọn gọn gàng cho cháu ngồi ngoan.

Đi học cấp một, ông nhận thêm chức “hội trưởng hội phụ huynh” lớp cháu. Lúc nào cháu cũng tự hào, mỗi khi thấy ông đứng lên phát biểu, mọi người chú ý lắng nghe và vỗ tay rào rào.

Ông và cháu gắn bó với nhau còn hơn là cháu với bố mẹ. Ông bảo cháu giống bác cả, người con gái ông hết mực yêu thương nhưng đoản mệnh. Có lẽ vì thế mà ông thương cháu như con. Cháu cứ cần gì là có, chưa có đèn học, ông đạp xa mấy cây số liền mua cho. Chưa có giày, ông chở cháu đi mua đến đôi nào cháu ưng nhất.

Bố mẹ cũng chẳng hứa là học giỏi mua cho gì, còn ông thì”Học giỏi ông mua mũ bò cho, học giỏi ông đưa đi nghỉ mát” nghĩ đến thế cũng chỉ muốn học giỏi để có được những thứ mình mơ.

Cháu càng lớn, tuổi ông càng cao, và những cơn mê ngủ do bênh tim càng khiến ông khó kiểm soát được hành vi của mình. Lúc thì ông ngủ đạp bay cả cửa sổ, lúc thì ông hét đến mức hàng xóm cũng giật mình. Có lần cháu ngủ, ông tưởng cháu là “quái vật” cào cổ cháu rách cả da. Có lần ông tưởng cháu là trộm, ông vặn cổ tay cháu suýt gẫy, nhưng đau lắm cháu mới dám khóc vì sợ bố mẹ bắt tách ông. Những lúc như thế, ông biết làm cháu đau ông lại an ủi: “mai thích gì ông mua cho nhé”, mà ông mua là ông phải mua bằng được thứ tôi thích chứ chẳng nói bâng quơ.
Thế rồi, tôi cũng phải chuyển sang ngủ với bà để tránh ông mê ngủ, những ngày đầu nhớ ông kinh khủng, và rồi cũng được hai năm, khi đã xây xong nhà, tôi lại mắc màn nằm ngủ cạnh ông. Có lẽ hai ông cháu khó lòng xa nhau được.

Mùa đông năm ấy, trời lạnh, ông có một khoản tiền tiết kiệm nho nhỏ, ông gửi bố mẹ đi mua đệm cho ông nằm, bà đã có đệm rồi, còn cháu gái mắc màn nằm cạnh ông chưa có. Bố mẹ bảo số tiền đó, bố mẹ sẽ mua đệm đẹp cho ông nằm, còn tôi nằm với bà cũng được. Ông không nghe, ông cứ đòi chia đôi, cháu một chiếc, ông một chiếc “vì nó toàn nằm ở phòng này”. Đến khi tôi bảo:”thôi cháu ngủ với bà, ông mua đệm đẹp đi, rồi lúc nào thích ông cho cháu nằm ké cũng được”, thế ông mới chấp nhận mua đệm đẹp cho mình. Đấy, ông tôi là thế đấy, không yêu ông, kính ông thì còn ai trên đời này xứng đáng hơn.

***

Năm tôi học lớp 6, bà nội mất, năm tôi học lớp 7 bác hai qua đời, cú sốc tinh thần lớn ập xuống cuộc đời ông cụ ở cái tuổi “xưa nay hiếm”. Một hôm, ông leo lên cầu thang, tìm đường ra ban công chắc để khuây khỏa nỗi buồn, không may, ông bước hẫng đập đầu vào cửa sổ. Máu và toàn là máu thấm đầy cái áo trắng của tôi, dính cả trên đôi tay của mẹ. Hôm ấy cứ ngỡ là ông sẽ ra đi mất, vậy mà ông kiên trì, ông bám trụ thật tài. Mọi người đưa ông đi cấp cứu, hôm sau ông đã kip ngồi xe mãy từ thành phố để trở về với tôi.

Sức khỏe ông cũng từ đó thất thường, ông vẫn đạp xe khắp đường làng, ngõ xóm, vẫn chủ hôn cho những đám cưới của người nhà. Nhưng thay bằng việc ông tự đi chơi thoải mái thì bây giờ giống như là “báo cáo” vậy. Ông đi trước, mẹ, tôi, em tôi hoặc ai đó phải âm thầm theo sau vì sợ ông bỗng dưng ngất lịm. Chẳng ai dám để ông ở nhà một mình, mà ông cũng chẳng bao giờ muốn một mình, tuổi già cùng những nỗi đau thương kiến ông lúc nào cũng cần có người tâm sự.

Cứ đến mùa hè, khi bạn bè nghỉ học đi chơi, còn tôi thì nghỉ học vào bệnh viện. Ông toàn ốm vào mùa hè, nhưng với tôi việc chăm ông trong bệnh viện chưa bao giờ là nghĩa vụ, đó là niềm vui, là nụ cười nhìn ông khi thấy ông khỏe mạnh. Lớp 7, tôi bé tẹo, xách hộp thức ăn đi mua phở cho ông, đến cửa hàng, tôi bị đuổi vì họ tưởng tôi vào xin đồ nhà họ. Về kể với ông, từ hôm sau, sáng ông đi mua đồ ăn sáng, trưa ông mua đồ ăn trưa, tối thì anh lên thay cho tôi nghỉ. Nhiều lúc tự hỏi mình đi chăm ông hay ông đi chăm mình?. Mỗi lần ông đi đâu, tôi vẫn phải đi sau theo dõi sợ ông ngã, nhưng phải vờ như không có mặt. Nhìn dáng người ông liêu xiêu trong buổi chiều tà, chiếc áo bệnh nhân xanh bay bay , cô đơn và đau khổ. Ông chắp tay ra sau, lững thững đi chầm chậm, phía trước, tôi hình dung một vẻ mặt dúm dó khắc khổ của một kiếp người sống chính tâm mà bất hạnh. Có lúc chân ông đứng không vững, ông phải bám vào xe chở rác bên đường, nó khiến tôi muốn chạy ngay đến bên ông , ôm lấy ông mà khóc.

Ông tôi yếu đi nhiều, những năm về sau, ông không còn đủ sức để đạp xe đi đâu nữa, xe đạp của ông nhường cho tôi đi học xa, thay vào đó tôi thành “cái gậy” mỗi khi ông muốn đi đâu đó. Mắt ông kém, thức ăn cứ phải gắp cho ông, nhiều khi không để ý, ông phải lần từng miếng cá, có lúc ông gắp phải chỗ toàn xương, nhìn ông gỡ mà thương không chịu nổi.

Lại mùa hè năm ấy, ông chưa bệnh tật gì, tôi cũng bắt đầu ôn thi đại học, tôi ở lại trên nhà bác, cứ cuối tuần mới được về với ông. Ông mờ mắt, chẳng nhìn ra cháu gái, tôi đứng xa nhìn, ông nhoẻn miệng cười đếm từng thúng thóc trên sân mỗi khi mẹ chuyển vào nhà, có vẻ ông vui vì mùa màng thắng lợi. Có lúc ông xắn quần, cũng chạy vào gạt thóc giúp mẹ, gạt thì gạt thôi, sức ông đâu có khỏe, thấy con vất vả ông cũng muốn giúp phần nào.

Chân ông sưng to quá, đôi dép không còn đủ sức chứa cho đôi chân khổng lồ. Tôi lo lắng , tôi sợ ông giống bà, ngày bà đổ bệnh, chân cũng to như thế. Mấy hôm sau, ông đi viện thật, nghe tin mà tôi muốn rụng rời, tôi lo lắm, tôi sợ mất ông. Vào bệnh viện, nhìn đôi chân tím ngắt, tôi chỉ có thể quay đi, chạy thẳng ra cửa và cứ thế khóc như mưa như gió. Mọi người có thể nghĩ tôi vô tâm, tôi không nói gì, mà lừ lừ đi thẳng, nhưng ông, ông gọi tôi vào và bảo: “ông không sao, con cứ yên tâm”. Thế mà ông khỏi thật.

Thế là bỏ hết lại, cả những cuộc chạy đua ồn ào và nóng nực kia, tôi ở bên ông. Đại học trượt, có thể thi lại, chứ ông mất không thể sống lại được. Thế là lại mùa hè, lại những ngày trông ông trong viện.

Ông đổi tính sau trận ốm lần đó, ông hay cáu gắt, mà cáu gắt nhiều nhất lại là đứa cháu mà ông yêu quý nhất từ trước đến nay. Nhiều khi tôi bức xúc, rồi cãi lại ông. Mẹ bảo: “Được nghe ông mắng còn là vui đấy con ạ, lỡ mai này muốn nghe cũng chẳng được đâu”. Từ đó, tôi quen, quen nghe ông mắng như một thứ thanh âm trong trẻo, không nghe thì nhớ. Hồi tôi chuẩn bị đi thi đại học, ông còn đe đốt hết sách vở, nếu như tôi không gọn gàng, ấy thế mà sau này tôi gọn gàng hẳn.

Mắng thì mắng vậy, nhưng mà tâm lý thì cũng phải gọi là vô cùng. Ông bắt mua quần áo đẹp mà mặc, lớn rồi phải biến điệu, “như bác Thanh ấy, đi làm trang điểm nó thành thói quen”, “hết tiền, bảo ông, ông cho”. Và không biết năm lớp 12 ấy tôi đã tiêu hết bao nhiêu tiền, từ những lần ông cho “tiêu vặt”.

Rồi tôi cũng bước chân vào đại học, xa gia đình, xa ông. Ông nhớ lắm, cho nên cứ hai tuần tôi lại xách ba lô lên và…về. Bố mẹ bảo: “về ít thôi” – tự ái, con về nhà mà bố mẹ cứ “đuổi”. Ông bảo: “cuối tuần về, rỗi là phải về”, phải nghe ông nói vui ơi là vui, mà không về ai thay cháu nhổ lông quặm mắt cho ông được.

Tôi đi học được hai tháng, thì biên cố lớn xảy ra. Người chị tôi yêu thương vô cùng, đã vô tình bỏ rơi tôi, hôm ấy, tôi về nhà trong tình trạng đờ đẫn như không còn ý thức. Chỉ có ông ngồi đó, trong căn nhà thênh thang đợi cháu. Tôi ngồi bệt trước hiên nhà, lại bàn tay ông dang ra vỗ về an ủi:” sống chết có số con ạ, chị tận mạng rồi, đừng buồn, để hồn chị siêu thoát”. Bao nhiêu lần rồi, bao nhiêu nỗi đau thương đi qua cuộc đời, đôi bàn tay ấy vẫn dang ra vỗ về đứa cháu nội yêu thương.

Nhưng 49 ngày sau, mới là cái tin sét đánh, mẹ báo cho tôi rằng ông đã qua đời. Tôi không kịp bên ông lúc ông trở bệnh, tôi không kịp nghe tiếng ông dặn dò, mọi thứ diễn ra quá nhanh, một sự thanh thản đến day dứt. Đôi bàn tay ấy không còn nắm tay tôi, nụ cười ấy không còn ở bên tôi từ đó.

Ba năm rồi, căn nhà trở nên vắng vẻ vì thiếu bong dáng ông, còn bao điều cháu muốn dành tặng ông mà chưa được. Ông vẫn sống trong tôi, mãi mãi trong đời này ông bất tử: Ông nội

Điều ước cuối đông

Có lẽ nó cũng cần trở về tổ ấm thực sự của mình, cái tổ ấm mà ở tuổi mười tám nó vẫn khao khát bay đi.

***

Nửa tháng trước Tết dương lịch, trời vẫn rất lạnh. Cái lạnh của những cơn gió mùa miền Bắc có gì đó thật đặc biệt. Chẳng thế mà mấy đứa bạn cùng lớp của nó đi du học bên kia quả địa cầu thỉnh thoảng vẫn mail về kêu rằng nhớ cái rét đặc sản ấy quá.

Một ngày cuối tuần hiếm hoi nó cho phép mình được ngủ nướng, quấn mình trong chăn trong căn phòng gần chục mét vuông, nơi nó gọi là vương quốc riêng tư của mình. Rồi bất chợt như nhớ ra điều gì đó quan trọng, nó đạp tung chăn tìm chiếc điện thoại mày mò một lúc chợt phát hiện ra một điều làm nó quên cả cái rét vẫn đang làm nó nổi da gà. Thì ra Tết dương lịch năm nay vào Chủ nhật. Chuyện này đồng nghĩa với việc thứ 2 hoặc thứ 6 sẽ được nghỉ bù. Tóm lại nó có 3 ngày tự do tha hồ lên kế hoạch. Chẳng hiểu sao việc đầu tiên hiện ra trong đầu nó lúc này là về quê nhỉ. Có lẽ đã lâu lắm rồi nó chưa được gặp mẹ và nhìn những khuôn mặt quen thuộc nơi quê nhà yêu dấu kia.

Điều ước cuối đông

Nghĩ thế nó lại càng chạnh lòng khi chợt nhớ ra rằng hai cái Tết trước nó cũng không về quê được. Nó tự an ủi mình rằng dù sao cũng là Tết dương lịch, không quan trọng lắm, Tết âm nó sẽ về. Lần đầu tiên không về nó viện cho mình cái lý do năm đầu tiên lên Thủ đô nên phải ở trên đây cảm nhận cho biết. Rồi lần thứ hai nó chẳng về được do ngày nghỉ Tết lại chơi vơi giữa tuần, mà như thế có muốn nó cũng không về được. Nó nhớ lần nào cách Tết một tuần mẹ lại gọi điện lên hỏi xem có về được không, anh chị ai cũng làm gần nhà, chỉ thiếu mỗi mình nó. Nếu lần này cũng không về được thì là ba năm rồi vắng mặt nó trong mâm cơm gia đình ngày đoàn tụ. Nó chợt nghĩ đến bài thơ bọn bạn viết tặng trong lưu bút trước ngày tốt nghiệp phổ thông mà càng nhớ mẹ, nhớ nhà nhiều hơn:

Ước gì nhặt được nắng chiều nay

Con sẽ đặt lên đôi vai gầy của mẹ

Chiều cuối đông nhạt nhòa trong mưa khẽ

Nắng tràn về cây lúa sẽ xanh hơn

Ước gì nhặt được nắng chiều nay

Con sẽ đặt lên đôi bàn tay mẹ

Mỗi buổi sớm khi bình minh trở dậy

Mẹ đi làm trong ánh nắng reo ca

Bốn mùa đông con đi học xa nhà

Là bốn mùa mong nắng về với mẹ

Đường con đi có bước chân lặng lẽ

Và cuối đường mắt nắng mẹ chờ mong.

Chẳng biết ai đã viết bài thơ này mà đúng với tâm trạng của nó bây giờ thế. Mẹ nó ở quê bây giờ chỉ có một mình. Bố nó là liệt sĩ, mẹ vẫn hay nói thương nhất thằng An chưa từng được nhìn mặt bố, chẳng thế mà cả nhà vẫn hay cưng chiều nó. Hai mươi tuổi rồi, mười tám năm nó sống dưới sự nuôi dưỡng dạy dỗ của mẹ. Nó thấy mình thật may mắn vì có được một người mẹ tuyệt vời như vậy. Vẫn nhớ ngày đầu tiên đi học xa nhà, có lẽ nó phải kiếm một cuốn sổ ghi những điều mẹ dặn thì may ra mới nhớ hết được, từ việc chịu khó nấu ăn không nên ăn quán đến việc mặc ấm khi ra ngoài. Mẹ bảo Hà Nội rét hơn quê mình nhiều, cái bệnh viêm họng hạt mãn tính của nó lại càng làm cho mẹ lo lắng hơn. Đôi lúc nghĩ mẹ tỉ mỉ như vậy nó lại cười trách mẹ: con lớn rồi mà mẹ, con tự lo được. Mẹ nhìn nó quắc mắt “con lớn so với ai được cơ chứ?”. Mẹ vẫn hay trách nó không biết quan tâm đến mình. Ngày còn bé, mùa đông đi học mẹ bắt nó mặc thật nhiều áo, nó bảo trông mình chẳng khác nào con heo con rồi cởi hết ra đuổi nhau với đám bạn. Kết quả nó bị ốm cả tuần do viêm phổ cấp. Mẹ biết tính nó thế, mẹ hiểu nó hơn chính cả bản thân nó nữa, với mẹ nó mãi là đứa con nít bướng bỉnh. Nó nghĩ thế rồi cười tủm một mình.

Bên ngoài chiếc ban công nhỏ, gió lạnh vẫn rít lên như thách thức làm những chậu hoa đá trông càng cô quạnh. Cốc cà phê nhỏ trên tay như hơi ấm duy nhất nó có được trong cái lạnh của buổi sáng sớm. Điện thoại kêu, tin nhắn tới.

- Tết dương lịch này mày có về không? Nhóm mình hình như về hết. – Tùng, thằng bạn học Thương mại nhắn tin cho nó.

- Tao chắc là có – nó gửi lại

- Ok , thế nhé để bảo bọn Hùng Hóng, và Vinh Lợn. Lần này về nhất định phải đập phá một trận

- Uhm

Humh… nó lại thở dài. Về quê mà bọn chúng định đập phá gì chứ? Có mỗi ba ngày nghỉ, trừ thời gian đi về thì nó chỉ có khoảng hơn một ngày được ở nhà. Từ lúc trở thành sinh viên sao lúc nào nó cũng phải tính ngày tính tháng được ở nhà. Chẳng bù cho lúc trước ngày rộng tháng dài thì nó lại khát kháo bay khỏi vùng quê nghèo toàn cát với sỏi. Nó ghen tỵ với bọn bạn sống trên thành phố này, chúng được sống no đủ hơn nó, chúng có nhiều cơ hội hơn nó. Nó đã từng nghĩ nếu có được như chúng bạn nó có thể sẽ làm được hơn thế. Nhưng rồi nó cho rằng những ngày tháng trước đây của nó với mẹ, với mảnh đất chôn rau cắt rốn chẳng gì có thể đánh đổi được. Chúng bạn đó chắc chẳng bao giờ biết được những lúc lòng hồi hộp vì sắp được về nhà cất tiếng “Mẹ ơi”, được mẹ chăm sóc dặn dò khi sống nơi xa. Điều mong mỏi đơn giản đó lại rất thật với tất cả những đứa sinh viên ngoại tỉnh đi học xa như nó.

Chuông điện thoại lại kêu, tin nhắn từ lớp trưởng: Lớp ta từ tuần sau sẽ học cả ngày thứ 7 để kết thúc kỳ học sớm. Thôi! thế là hết, trong một buổi sáng nó nhận cả tin vui lẫn tin dữ. Sau bao nhiêu hào hứng thì kế hoạch về quê của nó lại phá sản ngay trên bàn giấy. Chẳng nhẽ nó phải đợi đến Tết âm thật sao, lúc đó là đã tròn 5 tháng xa quê xa mẹ rồi. Lại nghĩ rằng gần nửa năm mới được nhìn thấy mẹ, nó thấy lòng chua sót. Nó muốn gọi điện luôn cho mẹ, tính không nhầm thì cũng gần một tháng rồi nó chưa gọi điện về nhà. Bất chợt nó sợ mẹ bị ốm bởi những đợt không khí lạnh tăng cường mà đài báo vẫn nói suốt mấy hôm nay. Nó lo mẹ mặc không đủ ấm, nó lo mẹ vẫn vác cuốc ra đồng trong những cơn gió lạnh dù bệnh viêm họng của mẹ không nhẹ hơn nó. Và cái cửa sổ không biết đã được ai đóng lại chưa vì nhiều lần những cơn gió đêm vẫn làm mẹ chẳng được ngon giấc.

Nó cầm máy gọi cho mẹ. Vẫn giọng nói dịu dàng đó làm nó thấy thân quen giữa vô số âm thanh phố xá. “An đấy hả? Con vẫn khỏe chứ?…Con học hành sao rồi? Tết dương này con có về được không…?” Mẹ hỏi nó liên tục, lần nào cũng thế vẫn những câu hỏi đó, lần nào nó cũng trả lời hết từng câu một. Nhưng lần này nó chỉ trả lời câu hỏi cuối trong ấp úng : “Con… con cũng chưa biết.”

Dù cố giấu nhưng nó biết mẹ lại ốm rồi. Những cơn gió mùa kia chắc làm khổ mẹ nhiều lắm. Nó biết Tết dương lịch này nó phải bận học. Mẹ vẫn luôn nhắc nó không được bỏ buổi học nào cả, hơn nữa lúc đó cũng là lúc thi cuối kỳ lại càng quan trọng. Nghỉ một buổi học đối với nó thật không dễ. Nhưng sao bây giờ nó muốn về với mẹ đến thế, nó chỉ ước cái cuối tuần thứ 7 kia là của riêng nó để nó có thời gian về bên mẹ. Nó ước có thể đánh đổi tất cả những lúc ngủ nướng của mình để có được một ngày. Nó ước… nó ước nhiều lắm. Nó biết mình tham lam. Nhưng nếu được như thế nó sẽ dành cả ngày bên mẹ, không chơi bời tụ tập nữa, với bạn bè sẽ còn nhiều thời gian. Nó sẽ đòi mẹ nấu những món ăn nó thích, nó sẽ quanh quẩn ngoài vườn bên những gốc khế mẹ trồng và ăn đến chán mới thôi. Cả ngày đó nó sẽ cùng anh đóng lại cho mẹ chiếc cửa sổ, lót thêm lớp nilong để phòng trời mưa. Chỉ ba ngày đó thôi nó sẽ được trở về là thằng An của ngày xưa sống trong sự bao bọc của mẹ và gia đình. Nó sẽ để lại đằng sau những lo toan của cuộc sống và sống theo cách riêng của mình. Và trên hết nó biết mình còn là một người con, tại nơi xa kia luôn có mẹ mong ngóng bước chân nó chở về. Tất cả những điều đó hiện lên rất thật, thôi thúc nó đưa ra quyết định của mình.

Nó đi ra ngoài chiếc ban công bé xíu, cốc cà phê mới pha đã nguội lạnh tự bao giờ. Nhìn ra bầu trời đông xa tít tắp nó vẫn chỉ thấy một gam màu xám lạnh đến rợn người. Cái rét dưới 12 độ C như làm cho cả dãy phố thu mình lại, những chú chim chăm chỉ nhất cũng ngại bay khỏi tổ. Có lẽ nó cũng cần trở về tổ ấm thực sự của mình, cái tổ ấm mà ở tuổi mười tám nó vẫn khao khát bay đi. Nó biết nơi đó có mẹ, có những điều thân thương nhất, và cả một khoảng trời nó tha hồ vùng vẫy, không cần bon chen, chẳng phải ganh đua. Nó chợt nhận ra mỗi lần nghĩ đến những điều đó lòng nó lại yên bình đến lạ.

Nó nhẩm đọc lại bài thơ kia, mắt vẫn hướng ra xa xăm, hướng về quê mẹ…

… Bốn mùa đông con đi học xa nhà

Là bốn mùa mong nắng về với mẹ

Đường con đi có bước chân lặng lẽ

Và cuối đường mắt nắng mẹ chờ mong.

Con sẽ về mẹ ạ. Nó quả quyết.

Mr. Radio (Xuân Đài)

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Gánh hàng rau của mẹ

Đi khắp thế gian không ai sánh bằng Mẹ
Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn Cha…

Gánh hàng rau của mẹ

Hơn 2 tuổi, nhà neo người không có người trông, con được gửi đi nhà trẻ. Mỗi chiều, Mẹ đến đón con rồi đưa con ra chợ, nơi ở một góc nhỏ, gánh hàng rau mẹ bán. Con ríu rít hát hò, kể chuyện cô chuyện bạn ở lớp, miệng kể mồm nhai nhồm nhoàm những thứ quà vặt mẹ mua cho. Mùa nào thức ấy, khi thì bắp ngô, khi thì chiếc bánh rán hay quả ổi, quả quýt… mẹ chọn mua từ chợ sớm. Hai Mẹ con ngồi bên nhau, Mẹ phe phẩy quạt cho con, dù trán mướt mồ hôi nhưng Mẹ vẫn mỉm cười mãn nguyện, “con cò bé bé nó đậu cành tre, biết đi đường nào…” , hôm nay con thuộc được 2 câu hát.

Con lên 5 tuổi, mỗi chiều tan lớp Mẹ vẫn tới đón rồi hai Mẹ con lại ôm nhau ngồi bán  hàng. Bây giờ hàng rau của Mẹ đã được căng bạt cố định, không còn cảnh Mẹ phải đội mưa nhường con cái nón hay nghiêng theo bóng nắng che mát cho con nữa. Hôm nào Mẹ cũng đi lấy hàng từ lúc gà còn chưa gáy rồi về nhà khi gà đã lên chuồng nên con hay mè nheo, bắt mẹ bế mọi lúc có thể. Con thích lắm, có khi ngủ gục trên tay Mẹ bắt tội Mẹ phải vừa bồng con vừa lấy rau cho khách. Có lúc giật mình tỉnh giấc, mồ hôi Mẹ rơi ướt trán con.

Vào lớp 1, con hào hứng mua sắm sách bút, quần áo mới cho ngày khai giảng. Con nhất quyết đòi đeo cái cặp in hình búp bê barbie to hơn người, miệng cười líu lo : ” Mẹ có phải xách ba lô nặng đâu mà mặt Mẹ buồn thế ?”

Ngày đầu tiên đi học, trường mới, bạn mới, đồng phục mới…bao điều lạ lẫm, con như trút bỏ hết được mọi bỡ ngỡ ngại ngùng khi được về nhà núp trong vòng tay Mẹ : ” Hôm nay cô giáo hỏi cả lớp bố mẹ làm nghề gì, con bảo Mẹ con bán rau xanh tươi ngon lắm !”. Mắt mẹ cười rạng rỡ.

Lần đầu đi văn nghệ, con tới lớp từ sớm để cô giáo bện tóc cho. Lần đầu được đánh phấn son, con cười tươi nghĩ Mẹ thấy sẽ khen thật xinh, hôm qua con đã dặn Mẹ phải đến xem con hát. Buổi lễ kết thúc, Mẹ hớt hải đến trong bộ cánh đẹp nhất : “Xin lỗi con gái nhé, có khách đặt hàng nên Mẹ đến muộn”. Suốt chặng đường về con dỗi mẹ vì không kịp mang hoa tới cho con tặng cô giáo. Má con loang lổ vệt phấn trôi vì nước mắt. Hôm ấy, ngày mùng tám tháng ba.

Con lên cấp hai, hàng rau của Mẹ đã được nâng cấp cho sạch sẽ cao ráo hơn nhưng con không còn lui tới thường xuyên như trước . Con cũng không còn hào hứng nắm lấy tay Mẹ mỗi khi tới trường, chiếc xe Mẹ đi sao mà khác biệt với xe của những phụ huynh khác thế ! Còn nhớ có lần cô giáo bảo con đổi giúp cô tiền lẻ để đi chùa, tiếng ‘Vâng ” lí nhí nghẹn ngào trong họng. Cô biết, con biết và tất cả lớp đều biết nhà mình nhiều tiền lẻ, vì mẹ bán rau, thu về từng nghìn lẻ chứ không phải hàng chục hay hàng trăm như nhà các bạn khác.

Và chẳng biết từ khi nào, con lớn đần lên, phổng phao đầy sức sống. Có lẽ cũng dần dần từ khi ấy, con ngại nhắc tới Mẹ cũng như hàng rau mà Mẹ đã gắn bó gần nửa đời người. Thay vì ngồi bên Mẹ mỗi chiều tan học như ngày thơ bé, con lại muốn được cùng ban bè tụ tập, la cà hay lang thang một mình. Chỉ cốt là có lý do không phải ngồi bên hàng rau của Mẹ. Con xấu hổ khi bạn bè trông thấy !

Con đỗ đại học, bố mẹ mừng khôn xiết, mua bao nhiêu đồ về nấu những món mà hiếm lắm cả nhà mới dám ăn. Họ hàng sang chơi, ai cũng khen : ” Nhà này tốt phúc có đứa con gái vừa ngoan vừa giỏi !” và đỡ đần cho vay mượn tiền bạc. Ngày con nhập trường, ngại ngùng, bỡ ngỡ như ngày đầu đi học. Mẹ vẫn bên con, nắm tay con thật chặt, “Con tự đi được mà Mẹ !”, con không còn cảm giác muốn nắm tay Mẹ nhiều như ngày xưa nữa.

“Bố mẹ cậu làm nghề gì đấy ?’

” À, ừ … nhà mình bán hàng tạp hóa !”

Con gượng gạo trả lời người bạn mới quen rồi nói lảng sang chuyện khác. Ở hội trường có điều hòa, đâu có nóng như ngồi ở hàng rau ngoài chợ mà sao Mẹ quay đi gạt mồ hôi trên mi mắt ?

Những tháng ngày sinh viên, con được tự lập cuộc sống, tự do học hành chơi bời thỏa thích mà không phải lo nghĩ vì bố mẹ vẫn gửi tiền cho hàng tháng. Thỉnh thoảng, Mẹ ở quên lên thăm mang theo bao nhiêu là đồ. Khi thì bao gạo, khi thì chục trứng gà nhà và tất nhiên không thể thiếu những mớ rau, quả bí xanh rì.

“Lần sau Mẹ mang ít đồ thôi, mà không phải mang rau đâu nhé. Ở đây rau còn rẻ hơn ở nhà, mạng theo mất công !”

“Vì Mẹ nghe báo đài thấy rau thành phố nhiều thuốc, lại đắt đỏ sợ con không dám ăn. Thôi lần sau mẹ không mang nữa vậy !”

Tiễn Mẹ bước lên xe khách rồi mà vẫn thấy dáng Mẹ gầy gầy, liêu xiêu đến nao lòng. Và rồi số lần Mẹ lên thăm cũng ít dần như con muốn, tỉ lệ thuận với số lần con mua rau về ăn, nhất là những lần mưa triền miên. Ở thành phố, rau đắt gấp mấy lần ở quê !

Năm thứ ba, con được nhận giải thưởng nghiên cứu của trường. Mẹ tất bật xuống xem con nhận giải trong bộ cánh mà lần nào xuống thăm Mẹ cũng mặc. Và cũng như nhiều năm về trước, Mẹ lại tới trễ, “Mẹ đi xe bus vào đây, tắc đường quá con ạ !”. Nhưng khác với năm ấy, lần này con không hề thấy buồn hay giận dỗi vì vắng Mẹ, “Mẹ về nhà trọ chờ con nhé, con đi với lớp một lát !”. Còn nhớ tối ấy về muộn, thấy Mẹ ngủ gục bên chiếc bàn sinh viên bé tẹo chờ con. Sáng hôm sau tỉnh dậy đã không thấy Mẹ đâu, “Mẹ ra bến trước không nhỡ xe, con không phải lo đâu nhé. Mẹ có luộc ít khoai khi nào con dậy thì nhớ ăn.”

Con đi mua quà giáng sinh cho mấy đứa bạn, chuông điện thoại nhà kêu liên hồi. Phố đông ồn ào, thôi để về phòng gọi lại, chắc không có gì quan trọng đâu. Con về phòng trọ trong tâm trạng rất vui và hớn hở hẹn bạn tối đi dạo phố chụp ảnh. Mở điện thoại lên với bao nhiêu cuộc gọi nhỡ. Rồi con như chết lặng khi đọc được tin nhắn từ bố : “Mẹ tai nạn vào viện, con về ngay nhé !”

Mẹ bị tai nạn trên đường đi chở hàng khi chiếc xe đằng sau phóng nhanh va phải. Mẹ nằm đấy, bất động và bình yên. Con chạy vào òa khóc nức nở như đứa trẻ bị đòn, tiếng nấc át cả tiếng thở khó nhọc của Mẹ. Trên tóc mẹ con vương cọng rau đã úa màu, màu vàng úa trên nền tóc điểm bạc. Rồi con chủ động nắm lấy bàn tay Mẹ, đã bao lâu rồi nhỉ ? Bàn tay thô ráp, gầy gầy xương xương với những đầu móng đã chuyển thành màu đen quạch theo năm tháng. Ngày xưa tay Mẹ đẹp lắm !

Nhìn Mẹ, con đau đến thắt lòng.

Nước mắt rơi chan chứa

“Mẹ ơi, con xin lỗi !”







_ songsinh – 03/10/2013 _

Fb : songsinh Thanh Thu